[Level 1] Financial Statement Analysis

[Tóm tắt kiến thức quan trọng] trong Reading 16 - Financial Reporting Standards.

Bài viết cung cấp những hiểu biết chung về các tổ chức đặt ra tiêu chuẩn kế toán, các cơ quan quản lý, những đặc tính của báo cáo tài chính và nguyên tắc lập báo cáo tài chính theo IAS No. 1

1. Các cơ quan đặt ra các tiêu chuẩn kế toán và các cơ quan quản lý:

1.1. Các cơ quan đặt ra các tiêu chuẩn kế toán (Standard-setting bodies):

  • Hai tổ chức chính thiết lập các tiêu chuẩn kế toán trên thế giới bao gồm: FASB (Financial Accounting Standards Board) của Mỹ và and IASB (International Accounting Standards Board) của Anh.
  • Tổ chức FASB đặt ra bộ tiêu chuẩn kế toán US GAAP (United States Generally Accepted Accounting Principles).
  • Tổ chức IASB đặt ra bộ tiêu chuẩn kế toán IFRS (International Financial Reporting Standards)

1.2. Các cơ quan quản lý (Regulatory authorities):

  • Là các cơ quan chính phủ có thẩm quyền pháp lý để đảm bảo việc thực hiện các tiêu chuẩn báo cáo tài chính và thực hiện các biện pháp kiểm soát khác đối với các chủ thể tham gia vào thị trường vốn trong phạm vi quyền hạn của mình. Ví dụ ở Mỹ là Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Mỹ (U.S. Securities and Exchange Commission - SEC).

2. Những đặc tính của báo cáo tài chính (được quy định trong Conceptual Framework for Financial Reporting):

2.1. Những đặc tính chất lượng cơ bản (Fundamental qualitative characteristics):

  • Tính liên quan (Relevance): Những thông tin tài chính có tính liên quan khi chúng có thể tạo ra sự khác biệt trong các quyết định tài chính, thông qua việc cung cấp các thông tin tài chính trong quá khứ (Confirmatory value) và dự đoán các sự kiện tài chính trong tương lai (predictive value).
    Mức độ liên quan của các thông tin tài chính phụ thuộc vào đặc điểm và tính trọng yếu (Materiality) của chúng.
  • Trình bày trung thực (Faithful representation): Thông tin được trình bày trung thực, đầy đủ và đúng bản chất kinh tế.

2.2. Những đặc tính bổ sung (Enhancing qualitative characteristics):

  • Có thể so sánh (Comparability): Có thể so sánh là một đặc tính mà cho phép những người sử dụng có thể xác định và hiểu được sự giống nhau cũng như khác nhau giữa các khoản mục. Thông tin về một bản báo cáo của doanh nghiệp sẽ có ích hơn nếu như nó có thể so sánh được với các doanh nghiệp khác hay trong chính doanh nghiệp đó tại các thời kì khác nhau.
  • Có thể kiểm chứng (Verifiability): Các đối tượng khác nhau khi sử dụng các phương pháp tương tự sẽ thu được kết quả tương tự.
  • Tính kịp thời (Timeliness): Những thông tin tài chính được cung cấp kịp thời đáp ứng việc đưa ra các quyết định tài chính.
  • Dễ hiểu (Understandability): Tính chất dễ hiểu là một đặc tính mà việc phân loại, mô tả và trình bày thông tin một cách rõ ràng và súc tích sẽ làm nó dễ hiểu hơn.
3. Những yếu tố chính cần có trong báo cáo tài chính:
  • Tài sản (Assets): Các nguồn lực mà doanh nghiệp đang kiểm soát và có thể thu được lợi ích trong tương lai.
  • Nợ phải trả (Liabilities): Các nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp, phát sinh từ các giao dịch trong quá khứ, doanh nghiệp phải thanh toán bằng các nguồn lực của mình.
  • Vốn chủ sở hữu (Equity): Là phần lãi còn lại trong tài sản của đơn vị sau khi trừ đi tất cả các khoản nợ phải trả.
  • Thu nhập (Income): Sự gia tăng lợi ích kinh tế, có thể tăng tài sản hoặc giảm nợ theo nhưng làm tăng vốn sở hữu (nhưng không bao gồm sự góp vốn của các chủ sở hữu).
  • Chi phí (Expenses): Sự suy giảm lợi ích kinh tế, có thể giảm tài sản hoặc tăng nợ theo nhưng làm giảm vốn sở hữu (nhưng không bao gồm sự phân phối cho các chủ sở hữu).
4. Nguyên tắc lập báo cáo tài chính (Được quy định trong International Accounting Standard (IAS) No. 1):
  • Trình bày hợp lí (Fair presentation): báo cáo tài chính được yêu cầu phải ghi nhận trung thực ảnh hưởng của các giao dịch và sự kiện theo các chuẩn mực về ghi nhận tài sản, nợ, doanh thu và chi phí.
  • Hoạt động liên tục (Going concern basis): Khi lập các báo cáo tài chính, ban Giám đốc phải đánh giá khả năng hoạt động liên tục của đơn vị. Đơn vị phải lập các báo tài chính trên cơ sở hoạt động liên tục trừ khi ban Giám đốc có ý định giải thể doanh nghiệp hoặc ngừng kinh doanh, hoặc không có phương án khả thi nào khác ngoài việc giải thể doanh nghiệp hoặc ngừng kinh doanh.
  • Cơ sở dồn tích (Accrual basis): Các giao dịch sẽ được ghi nhận ngay khi chúng xảy ra, trong thời kì mà nó phát sinh, chứ không phải khi nào thanh toán xong mới được ghi nhận.
  • Trình bày nhất quán (Consistency): Việc trình bày và phân loại các khoản mục trong báo cáo tài chính phải giống nhau trong các kì kế toán, trừ trường hợp có sự thay đổi đáng kể trong bản chất của doanh nghiệp hay có sự thay đổi theo yêu cầu của IFRS.
  • Trọng yếu (Materiality): Các thông tin được coi là trọng yếu nếu việc bỏ sót hoặc trình bày sai chúng có thể ảnh hưởng đến các quyết định của những đối tượng sử dụng báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính được yêu cầu trình bày đầy đủ và chính xác các thông tin trọng yếu.
  • Tổng hợp (Aggregation): Đơn vị phải trình bày riêng biệt từng nhóm các khoản mục trọng yếu có tính chất tương đồng. Đơn vị phải trình bày riêng biệt các khoản mục có bản chất hay chức năng không tương đồng trừ khi các khoản mục này là không trọng yếu.
  • Bù trừ (No offsetting): Đơn vị không được phép bù trừ tài sản với nợ phải trả hoặc thu nhập với chi phí trừ khi IFRS quy định hoặc cho phép việc bù trừ.
  • Tần suất báo cáo (Reporting frequency): Đơn vị phải trình bày một bộ hoàn chỉnh các báo cáo tài chính (bao gồm cả thông tin so sánh) tối thiểu là hàng năm.
  • Thông tin so sánh (Comparative information): Đơn vị phải trình bày thông tin so sánh của giai đoạn liền trước đối với tất cả các khoản mục trình bày trên các báo cáo tài chính cho kỳ kế toán hiện tại, trừ trường hợp có các chuẩn mực cụ thể yêu cầu khác.
    Đơn vị phải trình bày thông tin so sánh cho các diễn giải và mô tả nếu các thông tin này là cần thiết để hiểu các báo cáo tài chính kỳ này.