[Level 1] Financial Statement Analysis

[Tóm tắt kiến thức quan trọng] Reading 24 (Non-Current Liabilities) - Phần 2: Thuê tài sản và các loại nợ phải trả dài hạn khác

Phần còn lại của Reading số 24 sẽ nêu lên các phương pháp hạch toán thuê tài sản và các loại nợ phải trả dài hạn khác

1. Thuê tài sản (Leases)

1.1. Ưu điểm của việc thuê tài sản (Advantages of leases)

- Việc thuê tài sản có thể giúp cho người đi thuê giảm chi phí tài chính, thường là ít hơn nếu có, giảm khoản phải trả và có một lãi suất cố định.

- Hợp đồng cho thuê thương lượng có thể có ít các điều khoản dự phòng được yêu cầu so với các hợp đồng vay mượn khác.

- Người đi thuê cũng có thể giảm rủi ro của chính mình cho tài sản như các rủi ro liên quan tới giá trị thanh lý (Residual value), rủi ro lỗi thời (risk of obsolescence) bởi bị họ không phải là người nắm giữ tài sản.

1.2. Phương pháp ghi nhận của người đi thuê (Lessee accounting)

Theo chuẩn mực IFRS và US GAAP, bất kỳ hợp đồng thuê nào trong đó cả lợi ích và rủi ro về quyền sở hữu được chuyển giao đáng kể cho bên thuê được phân loại là hợp đồng thuê tài chính (finance lease). Nếu lợi ích hoặc rủi ro của quyền sở hữu về cơ bản không được chuyển giao cho bên thuê thì được phân loại là hợp đồng thuê hoạt động (operating lease).

Chuẩn mực báo cáo tài chính yêu cầu hợp đồng thuê phải được phân loại là hợp đồng thuê tài chính nếu đáp ứng bất kỳ nào điều kiện nào dưới đây:

  • Quyền sở hữu tài sản thuê chuyển giao cho bên thuê.
  • Bên thuê có quyền chọn mua tài sản và dự kiến sẽ sử dụng nó.
  • Hợp đồng cho thuê chiếm phần lớn thời gian hữu ích của tài sản.
  • Giá trị hiện tại của các khoản thanh toán tiền thuê lớn hơn hoặc bằng giá trị hợp lý của tài sản.
  • Bên cho thuê không sử dụng tài sản nào khác.

Các hợp đồng thuê không được phân loại là hợp đồng thuê tài chính sẽ được phân loại là hợp đồng thuê hoạt động.

Bảng ghi nhận kế toán của các hợp đồng thuê tài sản dành cho người đi thuê:

 

Hợp đồng thuê (IFRS) và
Hợp đồng tài chính (US GAAP) 

Hợp đồng thuê hoạt đồng 
(US GAAP)
Quyền sử dụng tài sản (right-of-use asset) và khoản nợ thuê (lease liability) Tất cả hợp đồng thuê, ngoại trừ các hợp đồng thuê ngắn hạn (lên tới 12 tháng) hay có giá trị nhỏ (lên tới $5000) yêu cầu bên thuê ghi nhận quyền sử dụng tài sản (right-of-use asset) và một khoản nợ thuê (lease liability) Được ghi nhận là hợp đồng thuê tài chính, khoản nợ thuê được ghi nhận và phân bổ tương tự IFRS. Quyền sử dụng tài sản (right-of-use asset) không được khấu hao theo phương pháp đường thẳng mà được phân bổ theo cùng một số tiền khi giảm nợ phải trả mỗi kỳ.
Báo cáo kết quả kinh doanh (Income statement)

- Quyền sử dụng tài sản (right-of-use asset) được phân bổ khấu hao theo thời hạn của hợp đồng thuê áp dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng (straight-line amortization), và được hạch toán trên BCKQKD.

- Khoản nợ thuê (lease liability) giảm dần trong mỗi kỳ bằng cách giảm dần dư nợ gốc. 

Chi phí hợp đồng thuê hoạt đồng

= Chi phí lãi vay + chi phí khấu hao

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 

(Cash flow statement)

- Theo IFRS, chi phí lãi vay được ghi nhận là dòng tiền ra từ hoạt động kinh doanh/ hoạt động tài chính.

- Theo US GAAP, chi phí lãi vay được ghi nhận là dòng tiền ra từ hoạt động kinh doanh.

- Khoản giảm dần của nợ thuê được ghi nhận là dòng tiền ra từ hoạt động tài chính.

Chi phí hợp đồng thuê hoạt động được ghi nhận là dòng tiền ra từ hoạt động kinh doanh.

1.3. Phương pháp ghi nhận của người cho thuê (Lessor accounting)


Bảng tổng hợp ghi nhận kế toán của các hợp đồng thuê dành cho người cho thuê (theo chuẩn mực IFRS và US GAAP):

  Hợp đồng thuê tài chính
(Finance lease)
Hợp đồng thuê hoạt động (Operating lease)
Bảng cân đối
kế toán
(Balance sheet)
Tại thời điểm bắt đầu hợp đồng, bên cho thuê xóa tài sản khỏi BCĐKT và ghi tăng phải thu tài sản cho thuê bằng với giá trị khoản thuê dự kiến.  Bên cho thuê không xóa tài sản thuê khỏi BCĐKT và tiếp tục ghi nhận chi phí khấu hao trong suốt thời gian sử dụng của tài sản.
Báo cáo kết quả kinh doanh (Income statement) Lãi/Lỗ được ghi nhận khi khoản tiền bên cho thuê thu được tăng/giảm so với giá trị khoản thuê dự kiến. Ghi nhận khoản thanh toán hợp đồng thuê là thu nhập. Trong khi chi phí khấu hao và các loại chi phí khác được ghi nhận là chi phí.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash flow statement) Ghi nhận dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh. Ghi nhận dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh.


2. Lương hưu và các khoản phúc lợi khác sau khi làm việc (Pensions and Other Post-Employment Benefits)

  • Việc kế toán lương hưu và các khác khoản phúc lợi sau khi làm việc sẽ phụ thuộc vào việc phân loại các quỹ phúc lợi. Thông thường có hai loại quỹ phúc lợi là defined contribution pension plans defined benefit pension plans.

Quỹ phúc lợi có mức đóng xác định (Defined contribution pension plans)

Quỹ phúc lợi với mức phúc lợi được xác định (Defined benefit pension plans)

- Số tiền đóng góp vào quỹ phúc lợi (hưu trí) được xác định và số tiền lương hưu được trả cuối cùng phụ thuộc vào kết quả hoạt động của tài sản quỹ (performance of the plan assets)

- Số tiền lương hưu mà được trả bởi quỹ phúc lợi thì được xác định, và thường tính theo một công thức riêng. Hầu hết các quỹ phúc lợi với mức phúc lợi được xác định thì được tài trợ bởi quỹ hưu trí (pension fund)

Số tiền mà công ty đóng góp cho quỹ hữu trí này thì được ghi nhận như là một chi phí lương hưu (pension expense) trên bảng kết quả hoạt động kinh doanh và được liệt kê là dòng tiền ra cho hoạt động (operating cash outflow).

Ảnh hưởng duy nhất lên tài sản và nợ phải trả của công ty là sự giảm trong tiền mặt (cash). Mặc dù một phần của giá trị cam kết (Agreed-upon) trong lương hưu đã không được trả, nhưng một khoản nợ vẫn được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán

Nếu giá trị hợp lý của tài sản lớn hơn (nhỏ hơn) nghĩa vụ hưu trí (pension obligation), tài sản đó sẽ có một phần thặng dư (surplus) hoặc thâm hụt (deficit), và phần giá trị ròng ghi nhận trên báo cáo tài chính sẽ là tài sản hưu trí ròng (net pension asset) – nợ hưu trí ròng  (net pension liabilities)

  • Các thành phần và cách ghi nhận của tổng chi phí hưu trí hàng kỳ cho Quỹ phúc lợi với mức phúc lợi được xác định (Defined benefit pension plans) như sau: