[Level 1] Portfolio Management

[Tóm tắt các kiến thức quan trọng] của Reading 51: Basics of Portfolio Planning and Construction

Bài viết cung cấp cho người đọc những kiến thức quan trọng của Reading 51

Tổng quan quy trình lên kế hoạch vào thực hiện đầu tư bao gồm các bước

1. Lên kế hoạch danh mục đầu tư

1.1. Báo cáo chính sách đầu tư (IPS)

Báo cáo chính sách đầu tư là một tài liệu phác thảo các qui tắc chung cho quá trình đầu tư, được đưa ra bởi người quản lý danh mục và khách hàng. 

Một báo cáo chính sách đầu tư sẽ bao gồm các nội dung chính sau:

  • Giới thiệu và mô tả chung về khách hàng
  • Mục tiêu đầu tư (purpose)
  • Nghĩa vụ và trách nhiệm: mô tả trách nhiệm và nghĩa vụ của người quản lý danh mục đầu tư và khách hàng và việc ủy thác các tài sản của khách hàng (custodian). 
  • Quy trình (procedure): vạch ra các thủ tục được yêu cầu để IPS luôn ở trong trạng thái được cập nhật và những thủ tục cần thực hiện khi có sự kiện bất ngờ xảy ra. 
  • Mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu rủi ro (investment objectives)
  • Các giới hạn về đầu tư của khách hàng
  • Hướng dẫn đầu tư (guidelines): mô tả cách thức các chính sách được thi hành (VD: về việc sử dụng đòn bẩy và chứng khoán phái sinh), và các loại tài sản không được bao gồm trong danh mục. 
  • Hướng dẫn đánh giá danh mục đầu tư khi nhận được phản hồi về kết quả đầu tư
  • Phần phụ lục mô tả chiến lược phân bổ tài sản và chính sách tái cân bằng danh mục

1.2. Mục tiêu rủi ro (risk objectives)

Mục tiêu rủi ro có thể là mục tiêu tuyệt đối hoặc mục tiêu tương đối. 

Khả năng chấp nhận rủi ro (risk tolerance): bao gồm cả khả năng chấp nhận rủi ro mức độ sẵn lòng chấp nhận rủi ro.

Khả năng chấp nhận rủi ro dựa trên tình hình tài chính của khách hàng, được đánh giá thông qua:
  • Thời gian đầu tư
  • Quy mô tài sản
  • Mức độ ổn định của nghề nghiệp
  • Bảo hiểm và các phương án dự phòng
    Mức độ sẵn lòng chấp nhận rủi ro dựa trên thái độ cũng như quan điểm đầu tư của khách hàng.
    • Khả năng chấp nhận rủi ro thấp + mức độ sẵn lòng chấp nhận rủi ro thấp: khuyến nghị đầu tư vào các tài sản an toàn
    • Khả năng chấp nhận rủi ro cao + mức độ sẵn lòng chấp nhận rủi ro cao: khuyến nghị đầu tư vào các tài sản mạo hiểm
    • Khả năng chấp nhận rủi ro thấp + mức độ sẵn lòng chấp nhận rủi ro cao: không khuyến nghị khách hàng đầu tư vào các tài sản có độ rủi ro cao và giải thích cho  khách hàng về lý do.
    • Khả năng chấp nhận rủi ro cao + mức độ sẵn lòng chấp nhận rủi ro thấp: giải thích và hỗ trợ khách hàng về rủi ro cũng như lợi ích, đưa ra khuyến nghị phù hợp nếu khách hàng thay đổi quan điểm đầu tư.

    Kết luận: luôn đưa ra khuyến nghị dựa trên mức thấp hơn giữa khả năng chấp nhận rủi ro và mức độ sẵn lòng chấp nhận rủi ro luôn tôn trọng ý kiến của khách hàng.

    1.3. Mục tiêu lợi nhuận

    • Mục tiêu lợi nhuận tuyệt đối (absolute return objective): mục tiêu lợi nhuận là con số cụ thể
    • Mục tiêu lợi nhuận tương đối (relative return objective): so sánh tương quan mục tiêu lợi nhuận với một chuẩn cụ thể

      Lưu ý: Nhà tư vấn đầu tư cần đảm bảo sự cân đối giữa mục tiêu lợi nhuận và mức độ chịu rủi ro của khách hàng. Ví dụ: Sẽ là không thực tế nếu khách hàng không sẵn sàng chịu rủi ro nhưng kỳ vọng lợi nhuận ở mức 20%/năm. Nhiệm vụ của nhà tư vấn tài chính lúc này là cân đối lại mục tiêu lợi nhuận của khách hàng ở mức thực tế hơn.

      1.4. Các giới hạn của nhà đầu tư

      • Thời gian đầu tư: Thời gian cho đến lúc khách hàng cần phải rút vốn
      • Nghĩa vụ thuế: NĐT có mức nộp thuế cao sẽ ưu tiên đầu tư vào các tài sản tax - free ví dụ như cổ phiếu có mức chênh lệch giá cao thay vì cổ phiếu trả cổ tức cao
      • Nhu cầu thanh khoản: khả năng chuyển tài sản đầu tư thành tiền mặt
      • Giới hạn pháp lý: sẽ có những giới hạn pháp lý được áp dụng chung cho tất cả nhà đầu tư trên thị trường, và các quy định được áp dụng lên các đối tượng cụ thể, ví dụ: giới hạn đầu tư một số loại tài sản đặc biệt, giới hạn tỷ lệ phân bổ giá trị tài sản đối với một số chứng khoán nhất định, giới hạn giao dịch cổ phiếu do chính công ty mình quản lý.
      • Các trường hợp đặc biệt: không đặc biệt quy định bởi pháp luật, tuy nhiên có một số trường hợp các nhà đầu tư có những lựa chọn đầu tư tương đối “cá nhân”, dựa trên quan điểm về đạo đức, tôn giáo, nhu cầu đa dạng hóa danh mục …

      2. Xây dựng danh mục đầu tư

      Bước thứ 2 trong quy trình quản trị danh mục đầu tư là xây dựng danh mục đầu tư cho khách hàng; sau khi đã hoàn thiện một IPS để chỉ ra các mục tiêu chính cũng như giới hạn của nhà đầu tư.

      1. Các kỳ vọng về thị trường vốn


      Các kỳ vọng về thị trường vốn là kỳ vọng của nhà đầu tư về lợi nhuận và rủi ro của các loại tài sản (asset classes). Các loại tài sản được phân chia như sau:

      Sau khi đã phân loại các nhóm tài sản, ta sẽ tính toán ra lợi nhuận kỳ vọng, độ lệch chuẩn tương ứng và hệ số tương quan giữa các phương án đầu tư và đảm bảo hệ số tương quan ở mức an toàn để đảm bảo lợi ích từ việc đa dạng hóa danh mục.

      2. Phân bổ nguồn vốn chiến lược


      Đây là quá trình xác định nguồn vốn của nhà đầu tư sẽ được phân bổ như thế nào vào các lớp tài sản khác nhau.

      Dựa trên kỳ vọng về thị trường vốn, lợi nhuận kỳ vọng, độ lệch chuẩn và hệ số tương quan giữa các tài sản, ta sẽ sử dụng các mô hình định lượng để xây dựng nên đường cận biên hiệu quả, đường phân bổ vốn và tìm ra điểm có danh mục đầu tư tối ưu, sau đó kết hợp với lợi nhuận và rủi ro kỳ vọng dựa trên IPS để xác định một phương án phân bổ nguồn vốn tối ưu nhất cho khách hàng. Sau khi hoàn thành phân tích ta sẽ có một chiến lược phân bổ nguồn vốn tối ưu. 

      3. Phân bổ rủi ro (Risk budgeting)

      Risk budgeting là hành động phân bổ mức độ rủi ro có thể chấp nhận được đã nêu rõ trong IPS vào các nguồn lợi nhuận đầu tư một cách phù hợp. Các nguồn lợi nhuận này bao gồm:

        • Lợi nhuận từ việc phân bổ nguồn vốn chiến lược (strategic asset allocation)
        • Lợi nhuận từ chiến thuật quản lý danh mục chủ động (tactical asset allocation)
        • Lợi nhuận từ việc lựa chọn chứng khoán (security selection)

      Việc phân bổ rủi ro sẽ đảm bảo quá trình quản lý danh mục chủ động sẽ chỉ chịu rủi ro ở mức độ nhất định. Các vấn đề có thể có đối với chiến thuật quản lý danh mục theo hướng chủ động:

        • Khách hàng có thể sử dụng nhiều nhà quản lý quỹ có quan điểm trái chiều về cùng một loại tài sản

      Ví dụ: khách hàng có 2 nhà quản lý quỹ A và B, A cho rằng cổ phiếu Apple đang bị định giá quá cao và sẽ dự định bán, ngược lại B cho rằng cổ phiếu Apple vẫn có thể tăng giá tiếp và mua vào. Ảnh hưởng của 2 quyết định đối với cùng một nhà đầu tư sẽ triệt tiêu hiệu quả lẫn nhau

        • Giao dịch dư thừa

      Ví dụ: Vẫn lấy tiếp ví dụ ở trường hợp trên, nếu cả 2 nhà quản lý quỹ A và B đều mua và bán cổ phiếu Apple, về cơ bản tổng khối lượng tài sản không thay đổi và thậm chí còn khiến nhà đầu tư mất thêm phí giao dịch cũng như tăng thuế thu nhập

      Một phương pháp được sử dụng để giải quyết các vấn đề như trên là phương pháp Lõi-Vệ Tinh (Core Satellite Approach). Theo phương pháp này, nhà đầu tư sẽ phân bổ phần lớn nguồn vốn vào quỹ bị động, gọi là quỹ lõi/quỹ chính, được neo giá trị theo các chỉ số thị trường chứng khoán, và phân bổ phần nhỏ còn lại vào quỹ chủ động, ta sẽ gọi đây là quỹ vệ tinh, không neo giá trị theo các chỉ số. Cả 2 quỹ nếu hoạt động như trên sẽ ít có sự trùng lặp.

      Author: Sơn Đào

      Reviewer: Ngoc Hoang