[Level 1] Financial Statement Analysis

[Tóm tắt các kiến thức quan trọng] của Reading 25 - Financial Reporting Quality

Các vấn đề cơ bản cần chú ý khi học Reading 25 trong chương trình CFA level 1

1. Financial reporting quality (Chất lượng công tác báo cáo tài chính):
  • Chất lượng báo cáo tài chính đề cập đến các đặc điểm của báo cáo tài chính của một công ty, chủ yếu liên quan đến mức độ tuân thủ các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP). Tuy nhiên, do GAAP cho phép lựa chọn giữa các phương pháp, ước tính, vậy nên chỉ duy nhất việc bản thân tuân thủ GAAP không hẳn sẽ tạo ra báo cáo tài chính có chất lượng cao nhất.
  • Báo cáo tài chính chất lượng cao phải hữu ích cho việc ra quyết định. Hai đặc điểm của báo cáo tài chính hữu ích cho quyết định là tính liên quan (relevance) và tính trung thực (faithful representation.).
    Báo cáo tài chính có tính liên quan (relevance) khi các thông tin trong đó hữu ích trong việc đưa ra quyết định của những đối tượng sử dụng báo cáo tài chính. Các thông tin có tính liên quan trở nên trọng yếu (materiality) khi chúng ảnh hưởng đến các quyết định được đưa ra.
    Báo cáo tài chính có tính trung thực (faithful representation) khi nó đảm bảo được tính đầy đủ (completeness), tính khách quan (neutrality) và không có lỗi. 
2. Quality of earnings ( Chất lượng của thu nhập):
  • Chất lượng của thu nhập được báo cáo (không phải chất lượng của báo cáo thu nhập) được đánh giá dựa trên mức độ bền vững (Sustainability). Thu nhập có chất lượng cao là thu nhập bền vững, tức là mức thu nhập đó duy trì sang các năm sau đó và ngược lại.
    Chất lượng của thu nhập phải đủ cao để duy trì sự tồn tại và hoạt động của công ty và đáp ứng đủ lợi nhuận cho các nhà đầu tư.
    Tính bền vững của các dòng tiền được báo cáo và các khoản mục trên bảng cân đối kế toán cũng là những yếu tố cần xem xét khi đánh giá chất lượng của thu nhập.

Chất lượng của báo cáo tài chính (quality of financial report) có thể được xếp hạng từ tốt nhất đến kém nhất, dựa trên việc kết hợp đánh giá chất lượng của thu nhập và chất lượng của báo cáo. Cụ thể như sau:

3. Relationships between Financial Reporting Quality and Earnings Quality (Mối quan hệ giữa Chất lượng Báo cáo Tài chính và Chất lượng Thu nhập)

 

 

Financial Reporting Quality (Chất lượng Báo cáo Tài chính)

Earnings (Results) Quality

(Chất lượng Thu nhập)

 

Low

High

High

Chất lượng báo cáo tài chính THẤP cản trở việc đánh giá chất lượng thu nhập và cản trở việc định giá.

Chất lượng báo cáo tài chính CAO cho phép đánh giá.

Chất lượng thu nhập CAO làm tăng giá trị công ty.

Low

Chất lượng báo cáo tài chính CAO cho phép đánh giá.

Chất lượng thu nhập THẤP làm giảm giá trị công ty. 

 4. Distinguish between conservative and aggressive accounting (Phân biệt giữa kế toán thận trọng và thổi phồng)

  • Báo cáo tài chính phải trung lập (không thiên vị) để có giá trị nhất đối với người sử dụng. Báo cáo trung lập có thể là “conservative” ( thận trọng) hoặc aggressive (thổi phồng). Các lựa chọn được thực hiện trong GAAP được coi là conservative nếu chúng có xu hướng giảm thu nhập được báo cáo và tình hình tài chính của công ty trong giai đoạn hiện tại và được coi là aggressive nếu chúng tăng thu nhập được báo cáo hoặc cải thiện tình hình tài chính trong giai đoạn hiện tại. Kế toán aggressive thường dẫn đến giảm thu nhập trong các kỳ tương lai, trong khi kế toán conservative sẽ có xu hướng làm tăng thu nhập trong kỳ tương lai.
  • Bảng sau là một số ví dụ về các lựa chọn kế toán mang tính aggressive và conservative.

Aggressive

Conservative

Vốn hóa chi phí kỳ hiện tại

Ghi nhận chi phí kỳ hiện tại

Ước tính dài hơn về tuổi thọ của tài sản có thể khấu hao

Ước tính ngắn hơn về tuổi thọ của tài sản có thể khấu hao

Giá trị thu hồi ước tính cao hơn

Giá trị thu hồi ước tính thấp hơn

Khấu hao đường thẳng

Khấu hao nhanh

Hoãn lại ghi nhận sự hư hại

Ghi nhận sớm sự hư hại

Dự phòng nhỏ hơn cho nợ xấu

Dự phòng lớn hơn cho nợ xấu

Các khoản dự phòng giảm giá tài sản được định giá nhỏ hơn đối với tài sản thuế thu nhập hoãn lại

Các khoản dự phòng giảm giá tài sản được định giá cao hơn đối với tài sản thuế thu nhập hoãn lại

 5. Các điều kiện dẫn đến việc phát hành báo cáo tài chính chất lượng thấp (Conditions for low-quality financial reporting)

Ba yếu tố thường tồn tại trong trường hợp Ban Giám đốc cung cấp báo cáo tài chính chất lượng thấp là động cơ (motivation), cơ hội (opportunity), và sự hợp lý hóa hành vi (rationalization of the behavior).

  • Motivation: Các động cơ khiến các nhà quản lý phát hành báo cáo tài chính chất lượng thấp:
    Các nhà quản lý muốn che đậy sự hoạt động kém hiệu quả của công ty như mất thị phần, lợi nhuận không bằng các đối thủ cạnh tranh,...
    Nâng cao danh tiếng và cải thiện các cơ hội nghề nghiệp trong tương lai hoặc chỉ đơn giản là tăng lương thưởng khuyến khích.
    đạt được uy tín với các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán hoặc cải thiện cách công ty được khách hàng và nhà cung cấp nhìn nhận. Đối với các công ty có tỷ lệ đòn bẩy cao và không có lãi, kế toán “Aggressive” có thể được thúc đẩy bởi mong muốn tránh vi phạm các giao ước nợ.
  • Opportunity: các trường hợp tạo cơ hội cho việc lập báo cáo tài chính có chất lượng thấp, hoặc thậm chí gian lận bao gồm:
    Kiểm soát nội bộ yếu kém
    Giám sát không đầy đủ của ban giám đốc
    Một loạt các biện pháp kế toán có thể chấp nhận được hoặc các hình phạt nhỏ trong trường hợp gian lận kế toán
  • Rationalization of the behavior: là sự hợp lý hóa của Ban Giám đốc đối với các hành động kém đạo đức.

6. Phân chia mức độ chất lượng báo cáo tài chính (A spectrum for assessing financial reporting quality)

    Kết hợp việc đánh giá chất lượng báo cáo tài chính và đánh giá chất lượng thu nhập, có thể chia chất lượng của báo cáo tài chính từ mức cao nhất cho đến mức thấp nhất:

    • Báo cáo tuân thủ theo GAAP và hữu ích cho việc đưa ra quyết định; thu nhập đủ và bền vững (Reporting is compliant with GAAP and decision useful; earnings are sustainable and
      adequate).
    • Báo cáo tuân thủ theo GAAP và hữu ích cho việc đưa ra quyết định; nhưng chất lượng thu nhập thấp - thu nhập không ổn định hoặc không đủ (Reporting is compliant with GAAP and decision useful, but earnings quality is low).
    • Báo cáo tuân thủ theo GAAP, nhưng chất lượng thu nhập thấp và những sự ước tính có tính chất thiên vị (Reporting is compliant with GAAP, but earnings quality is low and reporting choices and estimates are biased).
    • Báo cáo tuân thủ theo GAAP, nhưng thu nhập có sự điều chỉnh ó chủ đích (Reporting is compliant with GAAP, but the amount of earnings is actively managed to increase, decrease, or smooth reported earnings).
    • Báo cáo không tuân thủ theo GAAP, mặc dù số liệu được ghi nhận dựa trên các số liệu thực tế của công ty (Reporting is not compliant with GAAP, although the numbers presented are based on the company’s actual economic activities).