[Level 1] Portfolio Management

[Tóm tắt các kiến thức quan trọng] của Reading 53 - Introduction to Risk Management

1. Quy trình quản trị rủi ro
  • Giới thiệu

Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp và đầu tư, rủi ro là điều không thể tránh khỏi.

Một quy trình quản trị rủi ro (risk management) được xây dựng nên nhằm mục đích xác định và quản lý rủi ro, thiết lập mức chấp nhận rủi ro phù hợp cho tổ chức và cá nhân và đo lường rủi ro, sửa đổi và giám sát các rủi ro này sao cho phù hợp với mức chấp nhận rủi ro.

Mục tiêu của quản trị rủi ro, đối với doanh nghiệp là hiểu rõ và chấp nhận (embrace) những rủi ro có khả năng xảy ra để đảm đảo thực hiện những mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra, không phải là loại bỏ hoàn toàn rủi ro.

Mua bảo hiểm, tham gia vào các hợp đồng hoán đổi rủi ro, thay đổi thích ứng với hoàn cảnh là những cách thường được sử dụng để giảm thiểu mức độ ảnh hưởng không mong muốn của các rủi ro.

  • Khung quản trị rủi ro

Khung quản trị rủi ro là các cơ sở, quy trình cần thiết cho quá trình quản trị rủi ro. Một khuôn khổ quản trị rủi ro thường bao gồm các phần sau:

Để hình dung rõ hơn các quy trình trong một khuôn khổ quản trị rủi ro, ta có thể tham khảo sơ đồ dưới đây

2. Nhận diện rủi ro

Rủi ro được chia thành 2 dạng, rủi ro tài chính và phi tài chính. Rủi ro được phân loại dựa trên nguồn gốc, không dựa trên kết quả. Ngoài ra còn có các rủi ro xuất phát từ cá nhân thay vì từ thị trường
Rủi ro tài chính là rủi ro xuất hiện từ thị trường tài chính, rủi ro phi tài chính là rủi ro xuất hiện từ các nguồn khác, như môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý …

2.1. Rủi ro tài chính

 Rủi ro tài chính được chia nhỏ thành nhóm: rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản:

  • Rủi ro thị trường: là các rủi ro có nguồn gốc từ sự thay đổi giá trị tài sản, tỷ giá hối đoái, lãi suất
  • Rủi ro tín dụng (rủi ro vỡ nợ): rủi ro trong trường hợp đối tác không thể thanh toán nghĩa vụ nợ. Nghĩa vụ nợ ở đây có thể bắt nguồn từ trái phiếu, nợ, chứng khoán phái sinh …
  • Rủi ro thanh khoản: rủi ro việc phải bán một tài sản với giá thấp hơn giá trị thực. Rủi ro thanh khoản bắt nguồn từ quy mô thị trường, điều kiện thị trường và hình thức giao dịch.

2.2. Rủi ro phi tài chính

Các loại rủi ro phi tài chính chủ yếu bao gồm:

  • Rủi ro thanh toán (settlement risk): rủi ro bên đối tác không thể thực hiện việc thanh toán vào thời điểm đã quy ước trong hợp đồng, rủi ro này khá liên quan tới rủi ro tín dụng (rủi ro vỡ nợ), nhưng tập trung hơn vào khía cạnh thực hiện các khoản thanh toán trước khi vỡ nợ chính thức xảy ra. 
  • Rủi ro pháp lý (legal risk): (1) rủi ro các điều khoản theo hợp đồng không được hỗ trợ bởi hệ thống pháp lý hiện hành, hoặc (2) rủi ro bị kiện do doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ quy định hoặc làm những điều pháp luật không cho phép. 
  • Rủi ro tuân thủ (compliance risk): bao gồm rủi ro kế toán (accounting risk), rủi ro hệ thống pháp lý (regulatory risk), rủi ro về thuế (tax risk)
  • Rủi ro sử dụng mô hình (model risk): sử dụng sai mô hình định lượng, hoặc sử dụng đúng mô hình nhưng sai cách thức
  • Rủi ro đuôi (tail risk): rủi ro các sự kiện cực đoan có xác suất xảy ra cao hơn so với tính toán.
    Ví dụ: tính toán chỉ ra rằng chỉ có 1% khoản đầu tư này có thể lỗ đến 8%, tuy nhiên trong thực tế việc lỗ nhiều hơn con số 8% xảy ra thường xuyên hơn
  • Rủi ro vận hành (operational risk): xuất phát từ nhân sự và quy trình nội tại tổ chức không đồng nhất với nhau và hoạt động không như kỳ vọng.
  • Rủi ro phá sản (rủi ro thanh toán) (solvency risk): rủi ro doanh nghiệp không còn khả năng hoạt động do không còn nguồn tài chính.

2.3. Rủi ro liên quan tới cá nhân

  • Rủi ro mất cắp
  • Rủi ro sức khỏe (Heath risk): các chi phí liên quan tới sức khỏe cũng như bệnh tật làm giảm thu nhập, do cá nhân không chủ động bảo vệ và chăm sóc sức khỏe
  • Rủi ro tử vong (Mortality risk): rủi ro tử vong trước khi tạo ra thu nhập đủ cho cấp cho gia đình
  • Rủi ro tổn thất tài sản: thường được phòng vệ bằng bảo hiểm tài sản
  • Rủi ro bị lừa gạt bởi cố vấn tài chính
3. Đo lường rủi ro

3.1. Xác suất rủi ro, beta, độ lệch chuẩn, thời gian đáo hạn trung bình

  • Phương pháp được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức độ rủi ro là xác suất xảy ra rủi ro, tuy nhiên phương pháp này không chỉ ra được mức độ ảnh hưởng mà rủi ro ro đó có thể gây ra.
  • Một phương pháp khác thường được sử dụng là độ lệch chuẩn, thể hiện phạm vi (range) mà một tỷ lệ phần trăm của kết quả có thể nhận giá trị tại đó. Độ lệch chuẩn thường được sử dụng để đo lường mức độ biến thiên của giá trị tài sản hoặc lợi suất. Hạn chế của việc sử dụng độ lệch chuẩn trong việc đo lường rủi ro của một danh mục, là việc độ lệch chuẩn thường phóng đại rủi ro thực tế của một danh mục có thể được đa dạng hóa.

Lý do bởi, độ lệch chuẩn xét đến cả rủi ro hệ thống (systematic) và rủi ro phi hệ thống (unsystematic), tuy nhiên, rủi ro phi hệ thống có thể được giảm thiểu dễ dàng thông qua đa dạng hóa danh mục.

  • Beta là một phương pháp đo lường rủi ro thị trường, thể hiện độ nhạy của lợi nhuận của một cổ phiếu (stock) so với biến động lợi nhuận của danh mục thị trường.
  • Đối với các công cụ thu nhập cố định (fixed income), rủi ro cơ bản là rủi ro về lãi suất, do vậy đơn vị được sử dụng để đo lường rủi ro của thu nhập cố định là thời gian đái hạn trung bình (duration).

3.2. Đo lường rủi ro công cụ phái sinh

Đối với công cụ phái sinh, cách xác định rủi ro tương đối phức tạp, do công cụ phái sinh còn chịu ảnh hưởng bởi đòn bẩy tài chính. Mỗi công cụ phái sinh thường là hợp đồng dựa trên một tài sản cơ sở (underlying assets), giá của công cụ phái sinh sẽ bị ảnh hưởng bởi giá của tài sản cơ bản đó. Các đơn vị để đo lường rủi ro của công cụ phái sinh là:

  • Delta : đo lường độ nhạy của công cụ phái sinh khi xuất hiện một sự thay đổi nhẹ về giá của tài sản cơ bản
  • Gamma : đo lường độ nhạy của delta khi thay đổi giá của tài sản cơ bản
  • Vega: đo độ nhạy về giá của công cụ phái sinh đối với độ biến thiên của giá tài sản cơ bản
  • Rho : độ nhạy của giá công cụ phái sinh đối với thay đổi của mức lãi suất phi rủi ro.

3.3. Rủi ro đuôi (tail risk), giá trị chịu rủi ro (VaR) và giá trị chịu rủi ro có điều kiện (CVaR)

Các nhà quản trị rủi ro thường quan tâm đến rủi ro đuôi (tail risk) – rủi ro các khả năng cực xấu có thể xảy ra cao hơn dự kiến. Từ đây ta có 1 đơn vị là VaR (Value at Risk), để đo lường mức độ rủi ro đuôi.

VaR bao gồm 3 yếu tố:

  • Chu kỳ (time period)
  • Lỗ tối thiểu (minimum loss)
  • Xác suất (probability)

Ví dụ: một ngân hàng có VaR của 01 ngày là 2 triệu USD, với xác suất 5%.
Nghĩa là: Xác suất để lỗ ít nhất 2 triệu USD trong 1 ngày là 5%, hoặc 1 lần trong 20 ngày.

VaR là đơn vị thường được sử dụng tại các ngân hàng, được sử dụng nhằm mục đích tính ra Yêu cầu vốn tối thiểu (Minimum Capital Requirement).

Biến thể của VaR là CvaR (Conditional Value at Risk) là đơn vị đo lường giá trị kỳ vọng của khoản lỗ với một mốc lỗ tối thiểu.

CvaR bao gồm 3 yếu tố:

  • Chu kỳ (time period)
  • Lỗ tối thiểu (minimum loss)
  • Lỗ kỳ vọng (expected loss)

Ví dụ: CvaR = 2.6 triệu USD nghĩa là nếu lỗ trong 1 ngày vượt trên mốc 2 triệu USD, lỗ kỳ vọng sẽ là 2.6 triệu USD.

Để tính ra VaR, ta thường sử dụng các yếu tố dữ liệu đầu vào và mô hình định lượng. Tuy nhiên để phòng ngừa rủi ro sai số đối với 2 yếu tố trên, VaR thường được sử dụng đi kèm với các phương pháp khác, bao gồm Kiểm trả sức chịu đựng (Stress test) và Phân tích tình huồng (Scenario Analysis):

  • Stress test: kiểm tra ảnh hưởng khi một biến bất kỳ được đẩy lên lên trạng thái cực điểm
  • Scenario analysis: kiểm tra ảnh hưởng khi nhiều hơn 1 biến bị thay đổi

3.2. Đo lường rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thuế/pháp lý

Đặc điểm của các loại rủi ro trên là rất khó để lượng hóa giá trị rủi ro, và các tính huống không thường xuyên xảy ra để thu thập đủ dữ liệu đánh giá.

  • Rủi ro tín dụng chủ yếu được đánh giá một cách chủ quan (subjective estimate) dựa trên các tiêu chí như giá trị thị trường của các hợp đồng bảo hiểm, phái sinh, các công cụ dùng để phòng vệ rủi ro.

Ví dụ: Rủi ro tín dụng của một công ty có thể được đo lường thông qua hợp đồng hoán vị rủi ro tín dụng (Creadit Default Swap – CDS) của chính công ty đó.

  • Rủi ro hoạt động rất khó để tính toán, đặc thù rất đa dạng, kết quả về sau có thể thay đổi rất lớn. Cách thường được sử dụng là kiểm tra trên số lượng mẫu lớn, trong đó mỗi quan sát là một công ty tương tự, từ đó suy ra được xác suất tổn thất, tổn thất trung bình.
  • Các rủi ro về thuế/pháp lý gần như dựa hoàn toàn vào các đánh giá chủ quan của người đánh giá.
4. Phương pháp điều chỉnh rủi ro

Nói về rủi ro, ta sẽ không nhắc đến việc loại bỏ hoàn toàn, do rủi ro ro quá thấp đồng nghĩa với việc lợi nhuận kỳ vọng không cao. Mục tiêu của quản trị rủi ro, là đưa ra sự kết hợp tối ưu giữa lợi nhuận và rủi ro cho danh mục.

Các phương pháp điều chỉnh rủi ro bao gồm:

  • Phòng tránh
  • Loại bỏ
  • Chuyển giao
  • Chấp nhận
  • Chuyển đổi

Quyết định về phương pháp điều chỉnh rủi ro chủ yếu dựa trên việc đánh giá lợi ích và chi phí liên quan.

Đọc kỹ hơn về các phương pháp điều chỉnh rủi ro tại Los55g, Module 55.1: Introduction to risk management, Schweser's notes book 5.

Author: Son Doan

Reviewer: Hoang Ngoc