[Level 1] Equity Investments

[Tóm tắt kiến thức quan trọng] của Reading 37: Introduction to Industry and Company Analysis

Các vấn đề cơ bản cần chú ý khi học Reading 37 trong chương trình CFA level 1

1. Mục đích của phân tích ngành
  • Xác định lĩnh vực kinh doanh và môi trường kinh doanh của công ty.
  • Nhận diện các cơ hội đầu tư thông qua phân tích tổng quan về tiềm năng phát triển, đối thủ cạnh tranh và các rủi ro của công ty.
  • Phân bổ danh mục đầu tư.  

2. Các cách phân loại ngành

2.1. Phân loại theo Sản phẩm hoặc dịch vụ cung cấp (Products and/or Services Supplied)

Các ngành được phân loại theo sản phẩm hoặc dịch vụ chính mà ngành đó cung cấp.

2.2. Phân loại theo mức độ nhạy cảm đối với chu kỳ kinh doanh

  • Các ngành theo chu kỳ (Cyclical industries): có đặc trưng là nhạy cảm với chu kì kinh doanh, do đó doanh thu của ngành này thường cao hơn trong thời kì thịnh vượng và kinh tế tăng trưởng, và thấp hơn trong thời kì suy thoái và kinh tế thu hẹp. Ví dụ: các mặt hàng tiêu dùng tùy ý, nguyên liệu thô, công nghiệp nặng.
  • Các ngành không theo chu kỳ (Non-cyclical industries): có đặc trưng là không bị ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh doanh. Ví dụ: các công ty trong lĩnh vực y tế, viễn thông, các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu. Các ngành không theo chu kỳ có thể được tiếp tục phân chia thành:
      • Các ngành mang tính chất phòng thủ (Defensive industries): là các ngành cung cấp cản sản phẩm, dịch vụ thiết yếu như y tế, thực phẩm. Do đó không bị ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh doanh.
      • Các ngành tăng trưởng (Growth industries): là các ngành có nhu cầu quá lớn. Cung không đủ cầu. Vẫn tiếp tục phát triển ngay cả trong giai đoạn kinh tế suy thoái. 

2.3. Phân loại theo phương pháp thống kê (Statistical Similarities)

Phân loại theo phương pháp thống kê sử dụng các phương pháp thống kê để phân nhóm các công ty, thường dựa trên mối tương quan của lợi nhuận của chứng khoán trong quá khứ.

3. Các hệ thống phân loại ngành

Gồm hệ thống phân loại do chính phủ phát hành và hệ thống phân loại do các công ty tư nhân phát hành.

  • Commercial Industry Classification Systems: Sự phân loại ngành theo cách này các công ty xếp hạng tín dụng thực hiện (Standard & Poor’s, MSCI, Russell Investments, Dow Jones, và FTSE)
  • Governmental Industry Classification Systems: Sự phân loại ngành theo cách này được chính phủ thực hiện

4. Phân tích ngành

4.1. Các nhân tố cần xét đến khi thực hiện phân tích ngành

Một báo cáo phân tích ngành hoàn thiện cần: 

  • So sánh mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và xu hướng phát triển của ngành
  • Phán đoán các biến ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành dựa trên cách tiếp cận nhiều chiều
  • So sánh được khả năng định giá doanh nghiệp ở các ngàng khác nhau trong một quãng thời gian xuyên suốt để từ đó xác định được rủi ro cũng như chiến lược luận chuyển ngành hợp lí (industry rotation)
  • Phân tích triển vọng ngành
  • Phân loại được ngành dựa trên phân tích vòng đời
  • Phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố về nhân khẩu học, kinh tế vĩ mô, chính sách của chính phủ, biến động xã hội và biến đổi công nghệ
  • Xác định các yếu tố cạnh tranh trong ngành

4.2. Mô hình phân tích ngành dựa trên 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter

  • Mối đe dọa từ đối thủ mới (Threat of entry): các ngành có rào cản gia nhập ngành thấp thông thường sẽ có mức độ cạnh tranh cao hơn các ngành có rào cản gia nhập ngành cao.
  •  Vị thế của nhà cung cấp (Power of suppliers): sản phẩm của nhà cung cấp càng có ít lựa chọn thay thế, nhà cung cấp càng có nhiều ưu thế trong việc đàm phán chính sách giá.
  • Vị thế của người mua (Power of buyer) : người mua càng có nhiều lựa chọn thì vị thế của người mua càng lớn. Do đó càng có nhiều lợi thế trong việc đàm phán chính sách giá.
  • Nguy cơ bị thay thế (Threat of subsitutes): Nếu sản phẩm hoặc dịch vụ của ngành có nhiều sự thay thế, cầu của ngành sẽ dễ dàng bị ảnh hưởng tiêu cực.
  • Mức độ cạnh tranh giữa các công ty trong ngành (Rivalry among existing competitors) : các ngành có mức độ tập trung càng nhỏ thì sự cạnh tranh giữa các công ty trong ngành càng lớn. 

Trong 5 nhân tố của mô hình 5 áp lực cạnh tranh bên trên, nhân tố Nguy cơ bị thay thế (Threat of entry)Mức độ cạnh tranh giữa các công ty trong ngành (Rivalry among existing competitors) là hai nhân tố thường được quan tâm nhiều nhất bởi các nhà phân tích  sẽ được tiếp tục phân tích dưới các khía cạnh dưới đây:

4.2.1. Rào cản gia nhập ngành (Threat of entry) 

Các ngành có rào cản gia nhập ngành lớn (Ví dụ: các ngành có chi phí cố định lớn như sản xuất máy bay, ô tô…) sẽ tạo nên rất nhiều áp lực cho các công ty mới ra nhập. Do đó sẽ làm giảm mức độ cạnh tranh trong ngành.

Ngược lại, nếu các đối thủ cạnh tranh mới có thể dễ dàng gia nhập ngành, mức độ cạnh tranh trong ngành sẽ tăng lên. Do đó, các ngành có rào cản gia nhập ngành thấp sẽ có rất ít ưu thế trong việc đàm phán chính sách giá dành cho nhà cung cấp bởi khi có ưu thế về giá, lợi nhuận tăng lên thì ngay lập tức sẽ xuất hiện các đối thủ cạnh tranh mới bước chân vào ngành và từ đó làm cho lợi nhuận giảm xuống. 

4.2.2.  Mức độ tập trung trong ngành (Rivalry among existing competitors)

Mặc dù thị trường phân mảnh thường dẫn đến cạnh tranh mạnh mẽ, sự tập trung cao trong ngành có thể không đảm bảo ưu thế trong đàm phán chính sách giá. Nếu các sản phẩm trong ngành không có sự khác biệt, người tiêu dùng sẽ chuyển sang nhà sản xuất rẻ nhất. Từ đó có thể dẫn đến cuộc chiến về giá giữa các công ty trong ngành.

4.2.3. Công suất của ngành (Industry Capacity) 

Công suất của ngành là số lượng hàng hóa, dịch vụ tối đa mà ngành đó có thể cung cấp trong một khoảng thời gian xác định. Công suất của ngành có tính chất không đổi trong ngắn hạn, thay đổi trong dài hạn.

Công suất sản xuất của một ngành càng nhỏ sẽ dẫn đến cung không đáp ứng đủ cầu. Do vậy ngành đó càng có nhiều ưu thế trong việc đàm phán chính sách giá. 

4.2.4. Sự ổn định thị phần (Market Share Stability)

Thị phần biến động cao cho thấy một ngành có tính cạnh tranh cao. Thị phần ổn định cho thấy sự cạnh tranh ít gay gắt hơn.

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định thị phần của ngành bao gồm: rào cản gia nhập ngành, sự xuất hiện các sản phẩm mới, các cải tiến trong sản xuất và chi phí chuyển đổi (switching cost).

Chi phí chuyển đổi là hao tổn mà khách hàng phải chịu khi thay đổi từ sản phẩm của công ty này sang sản phẩm của công ty khác. Chi phí chuyển đổi, chẳng hạn như thời gian và chi phí học cách sử dụng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, có xu hướng cao hơn đối với các sản phẩm chuyên biệt hoặc khác biệt. Chi phí chuyển đổi cao góp phần vào sự ổn định thị phần và tăng khả năng đàm phán chính sách giá của doanh nghiệp

4.2.5. Vòng đời của ngành (Industry Life Cycle)

Các giai đoạn trong vòng đời của một ngành là: giai đoạn nảy mầm (Embryonic stage), giai đoạn tăng trưởng (Growth stage), giai đoạn xáo động (Shakeout stage), giai đoạn chín muồi (Mature stage) và giai đoạn suy trào (Decline Stage)

  • Giai đoạn nảy mầm (Embryonic stage): Tốc độ tăng trưởng chậm, giá cao, cần đầu tư lớn, nguy cơ thất bại cao. 
  • Giai đoạn tăng trưởng (Growth stage): Tốc độ tăng trưởng nhanh, cạnh tranh ít, giá giảm, lợi nhuận tăng. 
  • Giai đoạn xáo động (Shakeout stage): Tốc độ tăng trưởng chậm lại, cạnh tranh khốc liệt, năng suất dư thừa, tỷ suất lợi nhuận giảm, cắt giảm chi phí. 
  • Giai đoạn chín muồi (Mature stage): Tốc độ tăng trưởng rất ít hoặc gần như không tăng trưởng, các công ty tìm cách thâu tóm và sáp nhập đối thủ, rào cản gia nhập cao, giá cả ổn định, công ty vượt trội giành được thị phần. 
  • Giai đoạn suy trào (Decline stage): Tốc độ tăng trưởng âm, giá giảm, các công ty tiến hành thâu tóm và sáp nhập mạnh.

Một điểm hạn chế của phân tích vòng đời đó là các giai đoạn của vòng đời có thể không kéo dài như dự đoán hoặc có thể bị bỏ qua hoàn toàn do thay đổi về công nghệ, quy định của chính phủ, thay đổi về xã hội hoặc nhân khẩu học. 

4.3. Chiến lược cạnh tranh

Chiến lược cạnh tranh là cách thức một công ty phản ứng với các cơ hội và mối đe dọa của môi trường bên ngoài. Chiến lược có thể là phòng thủ hoặc tấn công. Hai chiến lược cạnh tranh chính mà các công ty trong một ngành thường sử dụng gồm: chiến lược dẫn đầu về giá (Cost leadership strategy) và chiến lược khác biệt hóa sản phẩm (Product differentiation strategy).

  • Chiến lược dẫn đầu về giá (Cost leadership strategy): Doanh nghiệp tìm cách hạ giá thành sản phẩm xuống mức thấp nhất có thể để giành thị phần. Cung cấp cùng một loại sản phẩm với các công ty khác trong ngành nhưng với giá thấp hơn.
  • Chiến lược khác biệt hóa sản phẩm (Product differentiation strategy): Doanh nghiệp đầu tư nhiều nguồn lực cho bộ phận nghiên cứu và phát triển để tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới hoặc có chất lượng cao hơn hẳn so với các công ty còn lại trong ngành.

 

Reviewer: Duy Nguyễn