[Level 1] Economics

[Tóm tắt kiến thức quan trọng] của Reading 9: The firm and market structures

Bài viết cung cấp cho các bạn những kiến thức quan trọng của Reading 9

Cấu trúc thị trường và mức độ cạnh tranh của ngành ảnh hưởng chính sách về giá và sản phẩm của công ty; cuối cùng là lợi nhuận trong dài hạn.  


1. Tổng quan đặc điểm các thị trường

Yếu tố

Cạnh tranh hoàn hảo

(Perfect competition)

Cạnh tranh độc quyền

(Monopolistic competition)

Độc quyền tập đoàn

(Oligopoly)

Độc quyền

(Monopoly)

Số người bán

Nhiều công ty

Nhiều công ty

Một vài công ty

Chỉ  1 công ty

Rào cản gia nhập

Rất thấp

Thấp

Tương đối cao

Rất cao

Sản phẩm thay thế

Rất dễ thay thế

Có thể thay thế nhưng có sự khác nhau giữa các sản phẩm

Rất dễ thay thế hoặc phân biệt

Khó thay thế

Cạnh tranh

Chỉ cạnh tranh về giá

Cạnh tranh nhờ giá, marketing, các tính chất khác của sản phẩm

Cạnh tranh nhờ giá, marketing, các đặc tính khác của sản phẩm (phụ thuộc vào chiến lược của đối thủ)

Rất ít cạnh tranh

Vị thế về giá của công ty

Không có

Hạn chế

Tương đối đáng kể

Đáng kể

 

2. Các cấu trúc thị trường

2.1. Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect competition)

    Đặc điểm

    • Một công ty tham gia thị trường sẽ tiếp tục mở rộng sản xuất cho đến khi MR = MC. Doanh thu cận biên là giá vì tất cả các đơn vị bán ra được giả định sẽ được bán với mức giá thị trường
    • Giá thấp nhất trong số tất cả các thị trường
    • Lợi nhuận kinh tế = 0 trong dài hạn
    • Độ co giãn của thị trường rất lớn vì có quá nhiều sản phẩm thay thế đến từ các công ty cạnh tranh

    2.2. Cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition)

    Đặc điểm

    • Số lượng người bán lớn và hoạt động độc lập với nhau
    • Sản phẩm có tính khác biệt: sản phẩm của mỗi công ty có sự khác biệt so với các công ty khác
    • Các công ty cạnh tranh về giá cả, chất lượng và tiếp thị
    • Rào cản gia nhập thấp

      Quyết định đầu ra trong ngắn hạn cho một công ty (Hình 1)

      Quyết định đầu ra dài hạn cho một công ty (Hình 2)

      MR = MC → Tối đa hóa lợi nhuận kinh tế

      Sự gia nhập của các công ty mới làm dịch chuyển đường cầu đến điểm ATC * = P *

      Giá cho sản phẩm = P *

      N/A

      Lợi nhuận kinh tế dương = P * - ATC *

      từ đó thu hút các đối thủ tham gia thị trường

      Lợi nhuận kinh tế tiến tới  0

       

    2.3. Độc quyền tập đoàn (Oligopoly)


    Đặc điểm tiêu biểu nhất của thị trường độc quyền tập đoàn đó là quyết định và chiến lược của các công ty  sẽ phụ thuộc lẫn nhau tạo nên đường cầu gãy khúc mà ở đó khi sản phẩm có giá nhỏ hơn P*, đường cầu của sản phẩm trở nên ít co dãn hơn trong khi đó khi sản phẩm có giá lớn P*, đường cầu của sản phẩm trở nên co dãn hơn. Các mô hình chiến lược được thực hiện bởi doanh nghiệp hoạt động trong thị trường độc quyền tập đoàn: 
      • Mô hình cạnh tranh Cournot (Cournot model):  là một mô hình kinh tế mô tả thị trường độc quyền tập đoàn trong đó các công ty cạnh tranh cung cấp một loại sản phẩm giống hệt nhau, cạnh tranh nhau về số lượng sản phẩm sản xuất một cách độc lập và đồng thời. Trong mô hình này, các công ty trong thị trường độc quyền tập đoàn thường cạnh tranh bằng cách đánh cắp thị phần của nhau thông qua việc thay đổi số lượng hàng hóa được bán. 
      • Cân bằng Nash (Nash equilibrium): là trạng thái thị trường khi không bên nào trong số các nhà độc quyền tập đoàn có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách đơn phương thay đổi chiến lược giá. Cân bằng Nash gắn liền với lý thuyết trò chơi (game theory). Lý thuyết trò chơi sẽ áp dụng khi mỗi công ty trong thị trường độc quyền nhóm phải dự đoán quyết định của công ty đối thủ. 
      • Thông đồng (Collusion): là hành vi xảy ra trong thị trường độc quyền tập đoàn khi các công ty cấu kết với nhau nhằm gia tăng lợi nhuận, đảm bảo dòng tiền và làm gia tăng rào cản gia nhập ngành. Việc thông đồng sẽ có khả năng thành công hơn trong các điều kiện sau:
        • Số lượng công ty tham gia thị trường là nhỏ
        • Sản phẩm của các công ty tương đối giống nhau
        • Cấu trúc chi phí cảu các công ty tương đối giống nhau
        • Sản phẩm thường được mua thường xuyên với số lượng nhỏ
        • Khả năng ràng buộc cao và sự trả đũa sẽ đem lại hậu quả nặng nề nếu có một bên muốn phá vỡ thỏa thuận
        • Ít có sự cạnh tranh đến từ bên ngoài
      • Các-ten (Cartel): là thoả thuận hợp tác chính thức về giá cả, sản lượng và những điều kiện khác giữa các doanh nghiệp trong thị trường độc quyền tập đoàn. Những thoả thuận như vậy làm giảm cạnh tranh và tạo ra sự hợp tác giữa các doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu như tối đa hoá lợi nhuận hay gây khó khăn cho sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới.

    2.4. Độc quyền (Monopoly)

    Nhà độc quyền có quyền lực lớn trong việc định giá, là người quyết định giá cả của sản phẩm cũng như số lượng sản phẩm được bán ra trên thị trường. Hãng độc quyền có vị trí đặc biệt trên thị trường bởi nếu nhà độc quyền quyết định nâng giá bán sản phẩm, hãng sẽ không phải lo về việc đối thủ cạnh tranh sử dụng mức giá thấp hơn để giành thị phần. Để tối đa hóa lợi nhuận, các hãng độc quyền thưởng sản xuất giới hạn tới điểm tối đa hóa lợi nhuận MR = MC

    Một số chiến lược thường được sử dụng bởi nhà độc quyền

    • Phân biệt giá (Price discrimination): là việc hãng độc quyền bán cho các khách hàng khác nhau với giá khác nhau trên cùng 1 sản phẩm/dịch vụ. Ví dụ: giá rạp phim tuỳ theo độ tuổi. Biện pháp này giúp các công ty độc quyền thu được nhiều thặng dư tiêu dùng hơn so với việc dùng chính sách 1 giá
    • Độc quyền tự nhiên (Natural monopoly): là tình trạng mà ở đó lợi thế về các yếu tố đầu vào cho phép hãng có thể liên tục giảm chi phí sản xuất khi qui mô sản xuất mở rộng, do đó cách thức tổ chức sản xuất hiệu quả nhất là chỉ cần một chủ thể như vậy. Ví dụ: Chính phủ thường cho phép 1 đơn vị kinh doanh điện, nước
    3. Đo lường mức độ tập trung của thị trường

    Trong một số thị trường nhất định, các doanh nghiệp có thể lạm dụng quyền định giá, sức mạnh thị trường của mình để tối đa hóa lợi nhuận. Nhưng đồng thời những hành động đó sẽ tạo ra sự không hiệu quả của thị trường (market inefficiency), được thể hiện dưới dạng thông qua tổn thất tải trọng (deadweight loss) và thặng dư của người tiêu dùng (consumer surplus) bị suy giảm. Để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, các chính phủ sẽ xây dựng các chiến lược chống độc quyền, và để thực hiện họ cần phải đo lường được mức độ tập trung của thị trường. Các phương pháp để đo lường mức độ tập trung của thị trường bao gồm:

    • Hệ số tập trung (Concentration ratio): phản ánh tỷ trọng thị phần sở hữu bởi một số công ty được coi là lớn nhất (ví dụ: thị phần của 5 công ty lớn nhất) trong tổng sản lượng. Tiêu chuẩn để xác định các công ty lớn nhất có thể là doanh thu, sản lượng sản phẩm đầu ra, số lao động hay số vốn sử dụng. Chỉ tiêu này cho biết mức độ tập trung hóa trong nền kinh tế và xu thế phát triển của nó.
    • Chỉ số Herfindahl – Hirschman (Herfindahl – Hirschman index): Đo lường mức độ tập trung bằng việc tính toán các tổng các bình phương thị phần của mỗi công ty cạnh tranh trong một thị trường. Bộ Tư pháp Hoa Kỳ sử dụng HHI để đánh giá tác động của các thương vụ sáp nhập tiềm năng.

    Reviewer: Duy Nguyễn