[Level 1] Economics

[Tóm tắt kiến thức quan trọng] của Reading 14: Currency exchange rate

Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn những kiến thức quan trong trong Reading 14

1. Tỷ giá hối đoái

1.1. Các khái niệm căn bản

  • Tỷ giá hối đoái: là giá của 1 đơn vị tiền tệ dựa trên giá 1 đồng tiền khác. Trong 1 tỷ giá luôn có đồng tiền định giá (price currency) và đồng tiền yết giá (base currency). Để hiểu thêm về cặp tỷ giá này ta xem xét ví dụ: 1.25 USD/EUR. Trong tỷ giá nêu trên EUR ở dưới là đồng tiền yết giá, có nghĩa 1 đơn vị EUR đổi được 1.25 đơn vị USD.
  • Yết giá trực tiếp: khi đồng nội tệ là đồng tiền yết giá.
  • Yết giá gián tiếp: khi đồng nội tệ là đồng tiền định giá.
  • Tỷ giá danh nghĩa (nominal exchange rate): là tỷ lệ trao đổi tại một thời điểm bất kỳ của một cặp tiền tệ.
  • Tỷ giá thực (real exchange rate): thể hiện sức mua của 1 đồng tiền so với đồng tiền khác.
  • Tỷ giá hiện hành (spot exchange rate): là tỷ giá giao ngay, là giá thanh toán giao dịch tại ngay thời điểm hiện tại.
  • Tỷ giá kỳ hạn (forward exchange rate): tỷ giá áp dụng trong tương lai nhưng được xác định ở hiện tại. Tỷ giá này áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ có kỳ hạn và được xác định dựa trên cơ sở tỷ giá giao ngay và lãi suất trên thị trường tiền tệ.

1.2. Cách diễn đạt sự thay đổi giá trị của 1 đồng tiền

Giá sử xét cặp tiền USD/EUR với tỷ giá thay đổi từ 1.42 xuống 1.39 Phần trăm thay đổi giá của 1 EUR trên nền giá USD là 1.39/1.42-1 = -2.11% ta có thể nói giá của EUR đã giảm so với USD hay 1 EUR bây giờ mua được ít USD hơn (ít hơn 2.11%).

*Lưu ý: ở đây, đồng EUR mất giá 2.11% so với USD không có nghĩa USD lên giá 2.11% so với EUR.

Để tính độ tăng giá của USD ta phải chuyển USD thành đồng tiền yết giá và EUR là đồng tiền định giá.

Đồng tiền 1.42 USD/EUR trở thành 1/1.42 = 0.7042 EUR/USD, tương tự tỉ giá EUR/USD sau đó là 0.7194 như vậy đồng USD đã tăng 0.7194/0.7042 -1 = 2.16%.

1.3. Tỷ giá chéo

Tỷ giá chéo là tỷ giá giữa 2 loại tiền tệ được suy ra từ tỷ giá giữa chúng với đồng tiền thứ 3. Loại này cần thiết trong trường hợp không có thị trường giao dịch trực tiếp 2 đồng tiền trên.

2. Tỷ giá hiện hành (giao ngay) và tỷ giá kì hạn

Khác với tỉ giá hối đoái hiện hành (spot exchange rate), tỉ giá hối đoái kì hạn được diễn đạt thông qua sự chênh lệch của nó so với tỷ giá hiện hành.

Điểm cơ bản (Basic point): trong diễn đạt tí giá hối đoái, 1 điểm có giá trị 0.0001.

Ví dụ:

  • Khi tỷ giá EUR/USD tăng từ 1.3000 lên 1.3001 thì ta nói tỷ giá này tăng 1 điểm.
  • Tỷ giá kì hạn 90 ngày của cặp EUR/USD là + 18 điểm trong khi tỉ giá hiện hành là 1.3453 có nghĩa tỷ giá kì hạn 90 ngày là 1.3471.

2.1. Mối quan hệ giữa tỷ giá hiện hành, kì hạn, lãi suất và cơ hội kinh doanh chênh lệch giá

Khi các cặp tiền được giao dịch tự do và tồn tại các hợp đồng kì hạn đối với cặp tiền thì phần trăm thay đổi giữa tỷ giá kì hạn và tỷ giá hiện hành xấp xỉ bằng sự chênh lệch của lãi suất 2 nước. Mối liên hệ này là dựa trên nguyên tắc không có kinh doanh chênh lệch giá (no-arbitrage). Một khi mối quan hệ này không tồn tại thị trường sẽ lập tức kinh doanh chênh lệch giá và đưa các chệnh lệch giữa 2 tỷ giá về bằng chênh lệch giữa 2 mức lãi suất của 2 nước

Công thức thể hiện mối liên hệ, phương trình ngang giá lãi suất (interest rate parity):

2.2. Forward discount và forward premium

Để tính forward discount hay forward premium ta dựa theo sự chênh lệch đối với tỉ giá hiện tại của đồng tiền yết giá.

Ví dụ: tỷ giá giao ngay USD/EUR là 1.312 và tỷ giá kì hạn của cặp tiền này đang là 1.32 forward discount hay forward premium của đồng EUR là Forward/ Spot – 1 = 1.321/1.32 -1 = 0.609% > 0 đây là Forward premium.

3. Quản lý tỷ giá hối đoái

3.1. Các loại chế độ tỷ giá

IMF đã chia chế các chế độ tỉ giá theo 9 loại trong đó có 2 loại cho những đất nước không có đồng tiền riêng và 7 loại cho những nước có đồng tiền riêng.

  1. Đối với những đất nước không có đồng tiền riêng

  • Dollarization: Những đất nước này không phát hành tiền mà sử dụng tiền của nước khác.
  • Monetary union: Một nhóm các quốc gia sử dụng đồng tiền chung.
  1. Đối với nước có đồng tiền riêng
  • Cơ chế bản vị tiền (currency board arrangement): Là cơ chế tỉ giá dựa trên 1 cam kết pháp lý. Dưới chế độ này tỉ giá chuyển đổi giữa đồng nôi tệ với 1 đồng tiền nước ngoài sẽ được neo giữa cố định ngân hàng trung ương không có khả năng thực hiện chính sách tiền tệ và đồng tiền nội tệ sẽ mô phỏng lạm phát đồng tiền neo giữ.
  • Tỷ giá neo cố định quy ước (conventional fixed peg arrangement): Neo giữ tỉ giá với 1 đồng ngoại tệ hoặc 1 rổ tiền tệ với biên giao động ±1% thông qua các biện pháp trực tiếp hoặc gián tiếp tự do hơn trong chính sách tiền tệ.
  • Vùng mục tiêu (target zone): Vẫn neo giữa nội tệ với ngoại tệ hoặc 1 rổ ngoại tệ nhưng biên giao động tỷ giá cao hơn ±1%.
  • Cơ chế tỉ giá trượt (crawling peg): Tỉ giá được điều chỉnh định kì với tỉ lệ được thông báo trước (active crawling peg) hoặc tỉ giá sẽ được thay đổi thường xuyên dựa trên mức độ lạm phát (passive crawling peg).
  • Quản lý tỷ giá trong dải trượt (management of exchange rates within crawling bands): Đô rộng của biên giao động tỷ giá mở rộng dần. Đây là phương pháp sử dụng để chuyển từ chế độ neo giữ cố định sang thả nổi Tự do hơn trong chính sách tiền tệ.
  • Tỷ gia thả nổi 1 cách có điều tiết (managed floating exchange rates): cơ quan thẩm quyền quản lý tỷ giá dự trên các tác nhân như lạm phát, thất nghiệp, không có bất cứ 1 mục tiêu tỉ giá nào được xác định trước.
  • Tỷ giá thả nổi độc lập (independently floating): tỷ giá được thị trường quyết định.

3.2. Tác động của chính sách đối với giáo dịch thương mại quốc tế và dòng vốn

Có 2 cách để xác định những ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại của 1 quốc gia. Hướng tiếp cận theo hệ số co dãn (elasticity approach) tập trung vào các tác động của tý giá vào tổng giá trị xuất và nhập khẩu của 1 quốc gia. Phương pháp hấp thụ (absorption approach) tập trung vào tác động của tỉ giá hối đoái đến đến dòng vốn do bất cứ thặng dư (thâm hụt) thương mai nào cũng phải được bù đắp bằng thâm hụt (thặng dư) tài khoản vốn nên ta hoàn toàn có thể xem xét tác động của tỷ giá đối với dòng chảy của vốn thay vì dòng chảy của hàng hoá.

1. Phương pháp hệ số co dãn

Khi đông tiền nội tệ giảm thì giá hàng hoá trong nước sẽ trở lên rẻ 1 cách tương đối so với đối tác xuất khẩu từ đó tăng xuất khẩu. Tương tự tác động trên của giảm giá nội tệ sẽ làm giảm nhập khẩu. Tuy nhiên để xét sự cải thiện của cán cân thương mại ta cần xem xét thay đổi giá trị xuất nhập khẩu chứ không phải số lượng. Vì thế hệ số co dãn đóng vại trò quan trọng. Ta xét ví dụ đồng nội tệ mất giá và cả hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu đều có cầu ít co dãn theo giá:

Ở ví dụ trên do hệ số co dãn thấp của hàng hóa xuất nhập khẩu khiến cho việc dù giá trị nội tệ có giảm nhưng cán cân thương mại cũng không cải thiện thậm chí còn chịu ảnh hưởng tiêu cực. Như vậy giảm giá đồng tiền sẽ có tác động mạnh mẽ đến cán cân thương mai chỉ khi cả hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu đều là các hàng hóa co dãn.

  • Điều kiện Marshall-Lerner

Khi phương trình Marshall-Lerner đúng việc giảm giá nội tệ sẽ giúp cải thiện cán cân thương mại.

  • Đường cong J

Tác động giá của việc hạ giá đồng tiền sẽ diễn ra trong ngắn hạn trong khi tác động về lượng lại cần thời gian để điều chỉnh. Sự lệch pha giữa 2 tác động này làm cho việc thâm hụt thương mại sâu hơn ở giai đoạn đầu sau đó điều kiện Marshall-Lerner mới có tác dụng và cán cân thương mại được cải thiện.

2. Phương pháp hấp thụ

Mối quan hệ giữa cán cân thương mại và dòng vốn đã được nhắc đến trong READING 14 Economics.

Ta có: X-M = (S-I) + (T-G)

Như vậy cán cân thương mại sẽ cải thiện khi thụ nhập tăng cao hơn chi tiêu hay nói cách khác tiết kiệm tăng cao hơn đầu tư.

Khi nền kinh tế ở trạng thái dưới trạng thái toàn dụng lao động ( full employment ) khi nội tệ mất giá sẽ làm hàng hóa và tài sản trong nước trời nên hấp dẫn hơn. Chuyển dịch cầu từ nước ngoài về trong nước dẫn đến tăng thu nhập và cả chi tiêu. Vì 1 phần thu nhập được tiết kiệm nên sẽ làm thu nhập tăng nhiều hơn chi tiêu từ đó cải thiện cán cân thương mại.

Khi nền khinh tế ở trạng thái toàn dụng lao động thu nhập không thể tăng thêm:

  • Tiêu dùng có thể giảm từ đó cải thiện cán cân thương mại, tuy nhiên điều này chỉ là tạm thời. Ban đầu việc nội tệ mất giá sẽ làm giá trị tài sản của dân cư bị giảm từ đó làm giảm tiêu dùng và cải thiện cán cân thương mại. Sau đó khi tài sản quay về giá trị thật sẽ làm giảm tiết kiệm và cán cân thương mại quay về như trước.
  • Tiêu dùng không tăng, nội tệ giảm giá sẽ làm hàng hóa nội địa rẻ và hấp đẫn hơn và cải thiện cán cân thương mại. Tuy nhiên nội tệ giảm giá cũng làm giá trong nước tăng lên và đảo ngược lại những ảnh hưởng tích cực từ việc nội tệ giảm giá cuối cùng cán cân thương mại lại quay lại như ban đầu.

 

Author : Manh Cuong

Reviewer : Hoang Ngoc