[Level 1] Portfolio Management

[Tổng hợp kiến thức chung] của Reading 48: Portfolio Management: An Overview

Bài viết cung cấp cho các bạn những kiến thức quan trọng của Reading 48

1. Quản trị danh mục đối với quá trình đầu tư

Lợi ích của việc xây dựng một danh mục đầu tư bao gồm:

  • Tránh tổn thất nặng nề nếu chỉ phụ thuộc vào 1 phương án đầu tư duy nhất
  • Giảm thiểu rủi ro chung (overall risk) mà không cần phải đánh đổi bằng việc giảm lợi nhuận kỳ vọng (expected return)
  • Đánh giá được từng phương án đầu tư xét trên cả phương diện rủi ro lẫn lợi ích > chọn ra phương án tối ưu nhất

    2. Những nhóm nhà đầu tư tiêu biểu

    Trước khi đi sâu vào phân tích các nhóm nhà đầu tư tiêu biểu, chúng ta cần nhận định rõ những đặc điểm cơ bản sẽ định nghĩa nên phong cách của một nhà đầu tư tài chính, bao gồm:

    • Investment Horizon – Thời hạn đầu tư:
    • Risk Tolerance – Mức độ chấp nhận rủi ro
    • Income need – Nhu cầu tài chính
    • Liquidity need – Nhu cầu thanh khoản

    Chúng ta tạm chia các nhà đầu tư tài chính thành 2 nhóm:

    Đối với các nhà đầu tư cá nhân

    Đối với nhà đầu tư tổ chức

    3. Quy trình quản lý danh mục đầu tư

    4. Quỹ đầu tư chung

    Như đã đề cập trong các nội dung trên, việc quản trị một danh mục đầu tư cần có chuyên môn từ những chuyên gia quản lý quỹ, và chỉ có những quỹ lớn mới có được yếu tố này. Tuy nhiên, việc những nhà đầu tư nhỏ lẻ cũng muốn tham gia, tạo nên nhu cầu phát triển cho những loại hình Quỹ đầu tư chung (Pooled investment vehicles). Các Quỹ đầu tư chung được xây dựng bằng cách gom các khoản đầu tư của rất nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ và xây dựng nên một quỹ đầu tư chung với một danh mục đầu tư được đa dạng hóa. Mỗi nhà đầu tư sẽ đóng vai trò như một cổ đông của Quỹ, và nhận được lợi ích tương ứng với phần giá trị vốn góp của mình vào quỹ.

    Các loại hình Quỹ đầu tư chung bao gồm:

    4.1. Quỹ tương hỗ (Mutual fund)

    Xét về cấu trúc vốn của quỹ, ta sẽ chia thành 2 nhóm

    • Open-ended: Quỹ sẽ phát hành thêm cổ phần khi có nhà đầu tư muốn góp thêm vốn và thu hồi lại khi nhà đầu tư muốn bán phần vốn góp. Giá được tính bằng công thức: Price = NAV / Số lượng cổ phần hiện hành. Nhà đầu tư thường trực tiếp giao dịch với chính quỹ tương hỗ.
    • Closed-ended: Quỹ sẽ không phát hành thêm hay thu hồi lại cổ phần từ các nhà đầu tư cá nhân. Cổ phần của các quỹ theo dạng này tương đối giống với cổ phiếu. Các quỹ sẽ phát hành cổ phần trên thị trường sơ cấp (primary market), cổ phần sau đó được bán cho các nhà đầu tư và giao dịch giữa các nhà đầu tư trên thị trường thứ cấp (secondary market). 
      Cách duy nhất để các nhà đầu tư có được cổ phần là họ mua trên thị trường thứ cấp. 

    Tất cả các quỹ tương hỗ đều yêu cầu người tham gia quỹ một khoản phí quản lý thường niên. Phí sẽ được tính theo tỷ lệ % của NAV của quỹ. Xét về cấu trúc phí của quỹ tương hỗ, ta sẽ lại chia tiếp ra 2 loại:

    • Quỹ tương hỗ không thu phí bán (No-load fund)
    • Quỹ tương hỗ thu phí bán (Load fund)

    Xét trên sản phẩm đầu tư của quỹ tương hỗ, ta sẽ lại chia thành các nhóm sau:

    - Quỹ hoạt động trên thị trường tiền tệ (money market fund)
    • Quỹ MMF đầu tư vào các chứng khoán có thời hạn đáo hạn ngắn, chẳng hạn như Trái phiếu kho bạc của Chính phủ (T-bills) và các công cụ nợ của doanh nghiệp.
    • Thời gian đáo hạn đa phần không dài hơn 90 ngày.
    • NAV thường sẽ biến động rất ít xung quanh mức 1 USD/cổ phần và thu nhập sẽ được chuyển trực tiếp cho nhà đầu tư.

    Quỹ MMF có mức độ rủi ro rất thấp, các khoản đầu tư vào các quỹ này được coi là tương đương tiền (Cash equivalent) do tính thanh khoản rất cao


    - Quỹ hoạt động trên thị trường trái phiếu (bond fund)

    • Các quỹ trái phiếu đầu tư các loại hình trái phiếu với thời gian đáo hạn rất đa dạng, có thể từ 1 năm tới 30 năm
    • Đặc điểm của trái phiếu phụ thuộc vào các yếu tố: Tổ chức phát hành trái phiếu (Issuer), Mức độ xếp hạng tín dụng (Credit rating), loại hình quỹ, khu vực đầu tư (region)

    - Quỹ hoạt động trên thị trường cổ phiếu (stock fund):

    • Quỹ quản lý thụ động (Passively managed) – Quỹ chỉ số (Index fund): Quỹ được xây dựng mô phỏng tỷ trọng tài sản của một chỉ số cụ thể. Quỹ có danh mục được xây dựng nhằm mang lại cùng một mức thu nhập mà nhà đầu tư mong muốn nếu sở hữu tất cả các cổ phiếu trong một bảng chỉ số, chẳng hạn S&P500, VNIndex.
    • Quỹ quản lý chủ động (Actively managed): quỹ có danh mục được xây dựng với mục đích mang lại lợi nhuận cao hơn so với chỉ số thị trường. Để đạt được mục đích này, các nhà quản lý quỹ sẽ chọn ra các cổ phiếu đang bị đánh giá thấp hơn so với giá trị thực, thông qua quá trình định giá sử dụng các mô hình định lượng phức tạp, các kinh nghiệm thị trường. Các quỹ này sẽ thu phí quản lý cao hơn, nhưng đồng thời tạo ra nhiều lợi nhuận hơn

    4.2. Quỹ hoán đổi danh mục (Exchange Trade Fund)

    Điểm tương đồng giữa Quỹ ETF và quỹ closed-ended là quỹ sẽ phát hành cổ phần, sau đó cổ phần sẽ được giao dịch giữa các nhà đầu tư trên thị trường thứ cấp. Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa ETF và các quỹ close-ended là quỹ close-ended sẽ được đầu tư một cách chủ động, trong khi ETF thường được đầu tư bị động bằng cách mô phỏng một chỉ số nào đó.

    Giá giao dịch một cổ phần của Quỹ ETF sẽ khá sát với giá trị NAV của Quỹ, do Quỹ ETF sẽ có một dự phòng đặc biệt đối với một số Thành viên lập quỹ (Authorised participants), cho phép họ có thể quy đổi chứng chỉ quỹ ETF sang một danh mục cổ phiếu cá nhân khi giá của chứng chỉ ETF thấp hơn đáng kể so với NAV, hoặc ngược lại cho phép họ đổi cổ phiếu trong danh mục cá nhân lấy chứng chỉ ETF nếu giá đang cao hơn đáng kể so với NAV. Các hoạt động này được xây dựng nhằm mục đích chính để bình ổn và giữ giá của chứng chỉ quỹ ETF bằng với NAV

    4.3. Các tài khoản được quản lý (Managed Account)

    Các tài khoản được quản lý riêng về cơ bản không phải là một hình thức đầu tư chung, tài khoản này được sở hữu bởi một cá nhân giàu có, hoặc một tổ chức, và cá nhân/tổ chức đó sẽ nắm giữ toàn bộ giá trị của tài khoản này. Các tài khoản này được quản lý bởi một nhà quản lý quỹ chuyên nghiệp, được xây dựng dựa trên mục đích của chủ sở hữu, mức dộ chịu rủi ro, thuế phải nộp của chủ sở hữu.

    Để có một tài khoản được quản lý riêng, tổ chức/cá nhân cần có một số vốn ban đầu khá lớn, ít nhất là 100,000 USD

    4.4. Quỹ phòng hộ (Hedge Funds)

    Quỹ phòng hộ là một hình thức đầu tư chung, ít chịu ảnh hưởng bởi luật định hơn so với quỹ tương hỗ, chia ra các nhóm chính:

    • Quỹ mua/bán (Long/short fund): chiến lược của quỹ dựa trên việc mua các chứng khoán bị định giá thấp hơn so với thực tế và bán đi các chứng khoán bị thổi giá quá cao. Mục tiêu của loại hình quỹ này là luôn kiếm được lợi nhuận ổn định bất kể thị trường có đi lên hay đi xuống
    • Quỹ chênh lệch thu nhập cố định (Fixed-income Arbitrage funds): chiến lược của quỹ xoay quanh việc mua và bán các công cụ nợ và kiếm lời từ các khoản chênh lệch do định giá sai
    • Quỹ chênh lệch trái phiếu chuyển đổi (convertible bond arbitrage): bán trái phiếu chuyển đổi và mua vào các cổ phiếu để kiếm lời dựa trên các khoản chênh lệch do định giá sai:
    • Quỹ đầu tư theo tình huống (Event-driven): đầu tư dựa trên các sự kiện bất thường như M&A
    • Quỹ đầu tư vĩ mô toàn cầu (Global macro): kiếm lợi dựa trên chênh lệch lãi suất giữa các thị trường quốc tế và tỷ giá ngoại tệ.

    4.5. Quỹ tư nhân (Private Equity Fund) và Quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital Fund)

    Các quỹ này sẽ đầu tư để nắm giữ số lượng lớn cổ phiếu ở các công ty, tích cực tham gia vào quá trình quản lý công ty đó, và có thể thoái vốn khi đã đạt được mục tiêu lợi nhuận.

    Sự khác biệt giữa 2 loại quỹ này nằm ở đối tượng được đầu tư và chiến lược về sau:

    Quỹ tư nhân định hướng sẽ mua cổ phần nắm giữ của một công ty đại chúng, tham gia vào hoạt động quản lý nhằm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và sau đó bán đi khi được giá.

    Quỹ đầu tư đầu tư mạo hiểm sẽ đầu tư vào các công ty có tiềm năng hoặc start-up, sau đó giúp đỡ nhằm tăng giá trị của công ty đó và sẽ thoái vốn khi tìm được bên mua sẵn sàng trả giá cao.

    Author: Son Dao

    Reviewer: Hoang Ngoc